Ngày 27/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1413/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, liên tục đến năm 2045”. Phần lớn nội dung của văn bản bàn về thị trường chứng khoán, trái phiếu, bảo hiểm, ngân hàng và hạ tầng tài chính. Tài sản mã hóa chỉ chiếm một phần nhỏ, song xuất hiện ở nhiều chỗ: trong mục tiêu phát triển thị trường vốn, trong nhóm giải pháp về thể chế, trong nhiệm vụ giao cho Bộ Tài chính và trong phụ lục phân công. Sự hiện diện rải rác ấy cho thấy một thay đổi về cách nhìn của cơ quan hoạch định chính sách. Lĩnh vực này được coi là một bộ phận cần quy hoạch cùng các cấu phần khác của thị trường tài chính, chứ không còn là đối tượng chỉ để ngăn chặn rủi ro.

I. Nền tảng pháp lý đã hình thành
Để đánh giá đúng vị trí của Quyết định 1413, cần nhìn lại những gì đã có trước nó.
Luật Công nghiệp công nghệ số, được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2025 và có hiệu lực từ 1/1/2026, lần đầu đưa khái niệm tài sản số vào luật. Theo Điều 46, tài sản số là tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự, thể hiện dưới dạng dữ liệu số và được tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao, xác thực bằng công nghệ số. Điều 47 chia tài sản số thành tài sản ảo, tài sản mã hóa và tài sản số khác, đồng thời loại chứng khoán, các dạng số của tiền pháp định và tài sản tài chính khác ra khỏi phạm vi tài sản mã hóa.
Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP ngày 9/9/2025 của Chính phủ là văn bản tiếp theo, quy định thí điểm thị trường tài sản mã hóa trong thời hạn năm năm. Nghị quyết giới hạn tối đa năm tổ chức được cấp phép, đòi hỏi vốn điều lệ đã góp tối thiểu 10.000 tỷ đồng bằng đồng Việt Nam, và quy định tổng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%. Việc chào bán, phát hành tài sản mã hóa trong giai đoạn thí điểm chỉ dành cho nhà đầu tư nước ngoài. Buổi tọa đàm do UBA phối hợp với Trường Đại học Giao thông Vận tải tổ chức ngày 29/9/2025 đã bàn về cơ hội và thách thức của cơ chế này.
Từ đó đến nay, khung thực thi được bổ sung dần. Ngày 20/1/2026, Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 96/QĐ-BTC công bố ba thủ tục hành chính về cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép cung cấp dịch vụ tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa, và bắt đầu tiếp nhận hồ sơ từ chính ngày đó. Đến đầu tháng 2/2026, Bộ đã nhận bảy hồ sơ. Tháng 3/2026, Bộ gửi công văn lấy ý kiến Bộ Công an và Ngân hàng Nhà nước về năm hồ sơ được đánh giá đầy đủ, hợp lệ, thuộc về VIXEX, SCEX (trước đây là LPEX), CAEX, TCEX và Công ty Cổ phần Tài sản số Việt Nam. Hai hồ sơ còn lại không đạt yêu cầu.
Về nghĩa vụ tài chính và chế tài, từ ngày 1/7/2026, thu nhập từ chuyển nhượng tài sản số chịu thuế thu nhập cá nhân với thuế suất 0,1% trên giá trị mỗi lần chuyển nhượng theo Luật Thuế thu nhập cá nhân sửa đổi, được hướng dẫn bởi Thông tư 32/2026/TT-BTC và Thông tư 41/2026/TT-BTC. Nghị định số 284/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này có hiệu lực từ ngày 1/9/2026. Theo các nội dung đã được công bố, nhà đầu tư trong nước giao dịch ngoài tổ chức được cấp phép có thể bị phạt từ 30 đến 50 triệu đồng, còn tổ chức cung cấp dịch vụ hoặc quảng cáo tài sản mã hóa khi chưa có phép có thể bị phạt từ 180 đến 200 triệu đồng. Cơ quan quản lý cho biết nhà đầu tư vẫn được lưu giữ tài sản trong ví cá nhân, và nghĩa vụ giao dịch qua tổ chức được cấp phép chỉ phát sinh sau sáu tháng kể từ khi tổ chức đầu tiên nhận giấy phép.
Điều cần ghi nhận là tính đến giữa tháng 9/2026, giấy phép đầu tiên vẫn chưa được cấp. Thứ trưởng Bộ Tài chính từng kỳ vọng hoạt động chính thức bắt đầu sớm nhất trong quý III. Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho biết giấy phép đầu tiên được dự kiến trong năm 2026. Trong lúc chờ đợi, các ứng viên đã chuẩn bị bằng những cách khác nhau: SCEX nâng vốn điều lệ lên 5.000 tỷ đồng và đưa nền tảng giao dịch mô phỏng ra công chúng, CAEX kiểm thử có kiểm soát trong tháng 9. Mức vốn 10.000 tỷ đồng vẫn là rào cản lớn đối với phần lớn ứng viên.
II. Quyết định 1413 quy định gì về tài sản mã hóa
Quyết định 1413 đặt tài sản mã hóa vào mục tiêu “vận hành hiệu quả các sản phẩm mới, thị trường mới” của thị trường vốn, với yêu cầu cao về năng lực tài chính, công nghệ và tuân thủ, hướng tới một thị trường minh bạch, phù hợp chuẩn mực quốc tế sau giai đoạn thí điểm. Các nội dung cụ thể có thể gom thành năm nhóm.
Thứ nhất, về phân loại. Đề án định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo mô hình phân loại tài sản số và nghiên cứu ban hành Luật Tài sản số, phân tách rõ ba nhóm tài sản mã hóa: tài sản mã hóa phục vụ thanh toán, mã thông báo tiện ích (utility token), và mã thông báo chứng khoán hoặc tài sản thực số hóa (security token, RWA). Mục đích được nêu là tạo cơ sở quản lý phù hợp với bản chất từng loại hình.
Thứ hai, về lộ trình sản phẩm. Đề án yêu cầu xây dựng lộ trình bắt đầu từ cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, sau đó mở rộng sang chứng khoán số hóa, token hóa tài sản thực, trái phiếu số hóa, quỹ đầu tư số hóa và các dịch vụ lưu ký, thanh toán trên nền tảng công nghệ sổ cái phân tán.
Thứ ba, về rào cản pháp lý. Đề án yêu cầu rà soát các quy định còn chồng chéo giữa Luật Chứng khoán với Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Nhà ở, Luật Đất đai, Luật Dân sự và quy định về quản lý ngoại hối, nhằm tạo điều kiện cho token hóa tài sản thực và thu hút vốn ngoại.
Thứ tư, về giám sát. Đề án nghiên cứu hình thành trung tâm phân tích dữ liệu on-chain ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và công nghệ phân tích chuỗi khối để truy vết giao dịch, phát hiện dòng tiền bất thường và giám sát tổ chức phát hành, sàn giao dịch tài sản số. Đề án cũng nghiên cứu đưa tài sản số, token hóa tài sản thực, dữ liệu số và mô hình tài chính phi tập trung vào phạm vi đối tượng cần được kiểm toán.
Thứ năm, về phân công và thời hạn. Bộ Tài chính được giao triển khai vận hành thí điểm thị trường tài sản mã hóa và đánh giá để xây dựng khung pháp lý về tài sản số, tài sản mã hóa, sàn giao dịch tài sản số có giấy phép. Phụ lục xếp việc nghiên cứu, xây dựng Luật về tài sản số, tài sản mã hóa vào giai đoạn 2028 đến 2029, do Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước, Bộ Công an và các bộ, ngành liên quan.
III. Một số nhận định
Trước hết, tính chất của văn bản cần được xác định cho đúng. Quyết định 1413 là văn bản định hướng, không tạo giấy phép, quyền hay nghĩa vụ mới. Các động từ chủ đạo trong phần về tài sản mã hóa là “nghiên cứu”, “xây dựng lộ trình”, “đánh giá”. Giá trị của văn bản nằm ở chỗ xác nhận hướng đi và thứ tự ưu tiên, chứ chưa nằm ở quy phạm cụ thể.
Thứ hai, cách phân loại ba nhóm đặt ra một vấn đề cần làm rõ về phạm vi khái niệm. Điều 47 Luật Công nghiệp công nghệ số loại chứng khoán khỏi định nghĩa tài sản mã hóa, trong khi Đề án xếp mã thông báo chứng khoán vào một nhóm của tài sản mã hóa. Hai cách tiếp cận này không nhất thiết mâu thuẫn, vì Đề án dùng khái niệm theo nghĩa rộng để phục vụ việc phân loại quản lý, nhưng khi luật chuyên biệt được soạn thảo, ranh giới giữa tài sản mã hóa chịu sự điều chỉnh riêng và token có bản chất chứng khoán chịu sự điều chỉnh của pháp luật chứng khoán sẽ phải được xác định rõ. Câu hỏi về tiêu chí xếp một token vào nhóm nào, và cơ quan nào có thẩm quyền xác định, sẽ là vấn đề pháp lý then chốt.
Thứ ba, tồn tại một độ trễ đáng kể giữa các mốc. Luật riêng về tài sản số, tài sản mã hóa dự kiến chỉ được xây dựng trong giai đoạn 2028 đến 2029, trong khi Nghị quyết 05 có hiệu lực thí điểm năm năm, và theo quy định của Nghị quyết, thị trường tiếp tục vận hành theo Nghị quyết cho đến khi có văn bản pháp luật mới thay thế. Nghĩa là trong ít nhất hai đến ba năm tới, nền tảng điều chỉnh chủ yếu vẫn là văn bản dưới luật. Điều này tạo sự linh hoạt, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu về tính ổn định và khả năng dự đoán của chính sách đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Thứ tư, thứ tự triển khai hiện nay có điểm đáng bàn. Nghĩa vụ thuế đã có hiệu lực từ 1/7/2026 và chế tài xử phạt từ 1/9/2026, trong khi tổ chức được cấp phép đầu tiên chưa xuất hiện. Cơ chế sáu tháng kể từ ngày có giấy phép đầu tiên là một vùng đệm hợp lý, song tiến độ cấp phép sẽ quyết định việc các quy định này có đi vào thực tế đúng như thiết kế hay không. Khoảng cách giữa tuyên bố “triển khai vận hành thí điểm” trong Quyết định 1413 và thực tế chưa có sàn nào hoạt động cho thấy mức độ khó của khâu thẩm định về vốn, nhân sự, an toàn hệ thống và phòng, chống rửa tiền.
Thứ năm, mô hình thí điểm hiện tại nghiêng về các định chế tài chính lớn. Điều kiện vốn 10.000 tỷ đồng, tỷ lệ nắm giữ của tổ chức và giới hạn năm giấy phép dẫn đến việc thị trường được hình thành từ các ngân hàng, công ty chứng khoán và tập đoàn lớn. Đây là lựa chọn có chủ đích nhằm ưu tiên an toàn, nhưng hệ quả là khu vực doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp và cơ sở đào tạo khó tham gia trực tiếp vào lớp tổ chức thị trường. Các vai trò khác, như phát triển hạ tầng, kiểm toán hợp đồng thông minh, phân tích dữ liệu on-chain và đào tạo nhân lực, sẽ là không gian tham gia chủ yếu của các chủ thể này.
IV. Vấn đề đặt ra cho nghiên cứu và đào tạo
Với các trường đại học và cộng đồng nghiên cứu blockchain, văn bản mới cho thấy nhu cầu rõ ở những mảng mà Đề án nêu đích danh. Phân tích dữ liệu on-chain phục vụ giám sát và truy vết, kiểm toán tài sản số và hợp đồng thông minh, mô hình token hóa tài sản thực gắn với pháp luật đất đai, bất động sản và ngoại hối của Việt Nam, hạ tầng lưu ký và thanh toán trên công nghệ sổ cái phân tán là những lĩnh vực mà nguồn nhân lực hiện còn mỏng. Nhiều câu hỏi nghiên cứu cũng đã hiện ra, chẳng hạn tiêu chí phân biệt utility token với security token trong điều kiện Việt Nam, vị trí pháp lý của nhóm tài sản mã hóa phục vụ thanh toán so với pháp luật về tiền tệ và thanh toán, hay cách xác lập và đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản thực được token hóa.
V. Kết luận
Từ khái niệm tài sản mã hóa trong Luật Công nghiệp công nghệ số, qua cơ chế thí điểm theo Nghị quyết 05, đến việc đưa lĩnh vực này vào Đề án cải cách thị trường tài chính đến năm 2045, chính sách đã đi được một quãng đường có thể đếm được bằng văn bản và mốc thời gian. Quãng đường còn lại dài hơn: giấy phép đầu tiên chưa được cấp, luật chuyên biệt chưa được soạn thảo, và các vấn đề về phân loại, thẩm quyền, tài sản thực được token hóa vẫn đang ở giai đoạn nghiên cứu. Quyết định 1413 không giải quyết những vấn đề này, nhưng xác lập khuôn khổ để giải quyết chúng theo một lộ trình có chủ thể chịu trách nhiệm và thời hạn cụ thể. Với cộng đồng nghiên cứu và đào tạo, thời gian từ nay đến khi có luật là khoảng thời gian cần được sử dụng để chuẩn bị cơ sở khoa học và nguồn nhân lực cho thị trường.
















